THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 135 | Tháng 03/2011
Để chủ động đối phó với dịch bênh Taura, chương trình nuôi tôm biển của Hoa Kỳ đã thực hiện tại Viện Hải dương học một đề tài chọn giống di truyền để tạo dòng tôm chân trắng(LITOPENAEUS VANNAMEI) kháng virus gây hội chứng Taura(TSV)
Sử dụng giống tôm kháng virus gây hội chứng Taura (TSV) rất phổ biến ở hầu hết các khu vực nuôi tôm
- Story tool
- E-mail this story
- Print this story
Ngay trong những năm đầu tiên, việc chọn lọc tôm kháng TSV đã đạt được những tiến bộ đáng kể với tỉ lệ thành công đạt 10-20% qua mỗi thế hệ. Sau 15 thế hệ, các lứa tôm gần đây đã đạt tới tỉ lệ sống sót hơn 80% khi thử nghiệm cảm nhiễm lặp lại với virút TSV đã phân lập. Kết quả này cho thấy không cần tiếp tục chọn lọc dòng tôm này nữa.
Hội chứng Taura do TSV gây ra, được phát hiện lần đầu tiên ở Ecuađor năm 1992, sau đó lan rộng tới các vùng nuôi tôm chính ở châu Mỹ và châu Á. Ở Mỹ, TSV bùng phát đầu tiên ở Haoai và Florida năm 1994, sau đó ở Texas vào năm 1995.
Thời kỳ dịch TSV mới bùng phát, tỉ lệ tôm chết rất cao, dao động từ 40-95%. Từ năm 1992 đến 1995, tổn thất liên quan đến TSV mà ngành nuôi tôm Mỹ phải gánh chịu ước khoảng hơn 1 tỉ USD. Mặc dù chưa có thống kê chính xác nhưng việc thường xuyên xảy ra các ổ dịch TSV trên toàn nước Mỹ kể từ 1995 và việc lan rộng TSV ra châu Á rõ ràng đã gây ảnh hưởng lớn về kinh tế đối với ngành nuôi tôm.
Chọn giống tôm kháng bệnh TSV
Trước tình hình dịch bệnh TSV bùng phát tại Mỹ, Chương trình Nuôi tôm biển của Hoa Kỳ (viết tắt là USMSFP) do Bộ Nông nghiệp Mỹ tài trợ đã giao cho Viện Hải dương học thực hiện đề tài chọn giống tôm chân trắng kháng TSV từ nguồn tôm sạch bệnh (SPF).
Nghiên cứu chọn giống tôm kháng TSV bắt đầu vào năm 1995, mỗi năm chọn một hoặc hai nhóm gồm 50-80 gia đình tôm thử cảm nhiễm TSV qua đường miệng do 2 viện thành viên của USMSFP là Đại học Arizona và Phòng thí nghiệm Nghiên cứu vùng Vịnh thực hiện. Chương trình sử dụng phương pháp sinh sản chọn lọc theo gia đình, trong đó yếu tố quyết định để chọn hay loại bỏ một gia đình nào đó dựa trên kiểu phản ứng của tôm khi cho cảm nhiễm TSV. Tôm SPF từ những gia đình sống sót nhiều nhất được dùng để nhân giống thế hệ sau.
Thu thập gen
Khả năng di truyền của kháng thể TSV chỉ ở mức thấp hay trung bình, thấp hơn 0,2 theo tính toán trong các nghiên cứu của Viện Hải dương học. Điều này cũng phù hợp với các công bố trước đó đối với tôm chân trắng. Mặc dù vậy, qua quá trình chọn giống đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải tạo kháng thể TSV với tỉ lệ thành công khoảng 10-20% trong mỗi thế thệ (thể hiện qua tỉ lệ tôm sống sót tăng lên sau khi cảm nhiễm TSV) trong những năm chọn giống đầu tiên. Khả năng kháng TSV tăng được cho là do đã có biến đổi kiểu hình hoặc biến đổi gen trong tôm sống sót. Càng có nhiều gia đình tôm sống sót trong mỗi nhóm thí nghiệm càng cho phép nhiều lựa chọn khác biệt hơn, mang lại kết quả lớn hơn mong đợi.
Tuy nhiên, trải qua quá trình chọn giống dài hơn, mức độ biến đổi của tôm sống sót sau cảm nhiễm TSV giảm dần. Ví dụ, trong khi tỉ lệ sống sót trung bình của các gia đình tôm sau 5 thế hệ chọn giống tăng từ 44 lên 84%, thì hệ số biến đổi của tôm sống sót sau cảm nhiễm TSV lại giảm từ 43.3% xuống 13.6% (Hình 1 và 2).
Đến nay, quá trình chọn lọc đã trải qua 15 thế hệ và thế hệ gần đây nhất có tỉ lệ sống sót là 80% sau khi cảm nhiễm TSV, kể cả chủng virút TSV gây bệnh rất mạnh được phân lập ở Belize. Đặc biệt, một số gia đình tôm trong mỗi lứa có tỉ lệ sống sót lên tới 100%.Vì đã đạt được mức độ kháng TSV cao và ngày càng tiến bộ hơn, nên những nỗ lực chọn lọc hiện nay đang hướng sang các dòng có đặc điểm quan trọng khác về mặt kinh tế như tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao trong nuôi thương phẩm.
Sự tương quan về gen
Trong thời gian đầu của chương trình chọn giống người ta đã quan ngại về mối tương quan tiêu cực giữa khả năng kháng TSV và tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên, trong những thế hệ gần đây đã nhận thấy sự tương quan kiểu hình giữa các đặc tính đó là không lớn, biến đổi từ tương quan hơi tích cực đến hơi tiêu cực. Điều này cũng thấy trong mối quan hệ giữa số tôm sống sót qua cảm nhiễm TSV và tỷ lệ sống trong nuôi thương phẩm.Nếu thực sự có quan hệ tỷ lệ nghịch giữa khả năng sống sót qua cảm nhiễm TSV và tỷ lệ sống trong nuôi thương phẩm, thì quan hệ này cũng rất yếu và không cản trở đáng kể khả năng cải thiện gen cho cả 2 đặc tính này. Trên thực tế, đàn tôm giống kháng TSV ở Viện Hải dương học có tốc độ tăng trưởng tốt và tỉ lệ sống cao. Dòng tôm kháng TSV tăng trưởng tốt trong kiểm nghiệm với mật độ thả 363 con/m2 trong hệ thống nuôi tuần hoàn. Sau 69 ngày, các giá trị trọng lượng thân trung bình khi thu hoạch, tăng trưởng mỗi tuần và tỉ lệ sống tương ứng là 19,3g; 1,8g; và 87%.
Khi cho thử cảm nhiễm với virut đốm trắng (WSSV), virút đầu vàng (YHV) và virút gây teo cơ (IMNV), nhận thấy tôm chọn ọc kháng TSV của USMSFP không có khả năng kháng các bệnh liên quan đến virút khác. Qua thử nghiệm, hầu hết các gia đình tôm đều chết 100%.
Nhân giống cận huyết
Các nghiên cứu của viện Hải dương học cho thấy việc nhân giống cận huyết làm suy giảm nghiêm trọng khả năng kháng TSV. Hơn nữa, mức độ suy thoái do giao phối cận huyết (IBD) còn có thể phụ thuộc vào chủng virút. Hệ số IBD ước tính cho TSV phân lập ở Hawai và Texas tương ứng là -8.3% và -11.1%, nhưng IBD với virút phân lập ở Blize lên tới -31.4%.
Những ảnh hưởng đối với ngành sản xuất
Từ chương trình của USMSFP, Viện Hải dương học đã định kỳ cung cấp tôm giống kháng TSV dưới dạng hậu ấu trùng của các gia đình tôm khỏe nhất từ mỗi thế hệ tới những người sản xuất Mỹ . Sau 7 năm, khoảng 700.000 con tôm đã được chuyển giao cho nông dân Mỹ và các nhà sản xuất tôm giống, cùng một lượng nhỏ tôm được gửi đến các viện nghiên cứu Mỹ.
Hậu duệ của tôm kháng TSV đã được XK ra toàn thế giới. Đến nay, việc sử dụng dòng tôm L.vannamei kháng TSV đã trở thành rất phổ biến trên thế giới.
Hằng Vândịch
Global Aquaculture , Advocate, 1-2/2011
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét