Pages

Được tạo bởi Blogger.

12/10/13

Sản xuất tôm chân trắng kháng virus hội chứng Taura


THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 135 | Tháng 03/2011

Để chủ động đối phó với dịch bênh Taura, chương trình nuôi tôm biển của Hoa Kỳ đã thực hiện tại Viện Hải dương học một đề tài chọn giống di truyền để tạo dòng tôm chân trắng(LITOPENAEUS VANNAMEI) kháng virus gây hội chứng Taura(TSV)


Sử dụng giống tôm kháng virus gây hội chứng Taura (TSV) rất phổ biến ở hầu hết các khu vực nuôi tôm
Ngay trong  những  năm đầu  tiên, việc chọn  lọc tôm kháng TSV đã đạt được những tiến bộ đáng kể với tỉ  lệ  thành công đạt 10-20% qua mỗi thế hệ. Sau 15 thế hệ, các lứa tôm gần đây đã đạt tới tỉ lệ sống sót hơn 80% khi thử nghiệm cảm nhiễm  lặp  lại  với  virút  TSV  đã phân  lập. Kết quả này  cho  thấy không cần tiếp tục chọn lọc dòng tôm này nữa.
Hội chứng Taura do TSV gây ra, được  phát  hiện  lần đầu  tiên ở Ecuađor năm 1992, sau đó  lan rộng tới các vùng nuôi tôm chính ở châu Mỹ và châu Á. Ở Mỹ, TSV bùng  phát  đầu  tiên  ở Haoai  và Florida năm 1994, sau đó ở Texas vào năm 1995.
Thời  kỳ  dịch  TSV mới  bùng phát,  tỉ  lệ  tôm  chết  rất  cao, dao động  từ  40-95%.  Từ  năm  1992 đến 1995, tổn thất liên quan đến TSV  mà  ngành  nuôi  tôm  Mỹ phải gánh chịu ước khoảng hơn 1 tỉ USD. Mặc dù chưa có thống kê chính xác nhưng việc thường xuyên xảy ra các ổ dịch TSV trên toàn nước Mỹ kể từ 1995 và việc lan rộng TSV ra châu Á rõ ràng đã gây ảnh hưởng lớn về kinh tế đối với ngành nuôi tôm.
Chọn giống tôm kháng bệnh TSV
Trước  tình  hình  dịch  bệnh TSV bùng phát  tại Mỹ, Chương trình Nuôi tôm biển của Hoa Kỳ (viết tắt là USMSFP) do Bộ Nông nghiệp Mỹ  tài  trợ  đã  giao  cho Viện  Hải  dương  học  thực  hiện đề tài chọn giống tôm chân trắng kháng  TSV  từ  nguồn  tôm  sạch bệnh (SPF).
Nghiên  cứu  chọn  giống  tôm kháng  TSV  bắt  đầu  vào  năm 1995, mỗi năm chọn một hoặc hai nhóm  gồm  50-80  gia  đình  tôm thử  cảm nhiễm TSV qua đường miệng do 2 viện  thành viên của USMSFP  là Đại học Arizona  và Phòng  thí  nghiệm  Nghiên  cứu vùng  Vịnh  thực  hiện.  Chương trình sử dụng phương pháp sinh sản chọn lọc theo gia đình, trong đó yếu tố quyết định để chọn hay loại bỏ một gia đình nào đó dựa trên kiểu phản ứng của  tôm khi cho cảm nhiễm TSV. Tôm SPF từ những  gia  đình  sống  sót  nhiều nhất  được  dùng  để  nhân  giống thế hệ sau.

Thu thập gen

Khả năng di truyền của kháng thể TSV chỉ ở mức thấp hay trung bình, thấp hơn 0,2 theo  tính toán trong  các  nghiên  cứu  của  Viện Hải  dương  học. Điều  này  cũng phù hợp với các công bố trước đó đối với  tôm chân  trắng. Mặc dù vậy, qua quá trình chọn giống đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải tạo kháng thể TSV với  tỉ  lệ  thành  công khoảng  10-20%  trong mỗi  thế  thệ  (thể hiện qua  tỉ  lệ  tôm  sống  sót  tăng  lên sau  khi  cảm  nhiễm  TSV)  trong những năm chọn giống đầu tiên. Khả  năng  kháng  TSV  tăng được cho là do đã có biến đổi kiểu hình hoặc biến đổi gen trong tôm sống sót. Càng có nhiều gia đình tôm sống sót trong mỗi nhóm thí nghiệm càng cho phép nhiều lựa chọn khác biệt hơn, mang lại kết quả lớn hơn mong đợi.
Tuy nhiên, trải qua quá trình chọn giống dài hơn, mức độ biến đổi  của  tôm  sống  sót  sau  cảm nhiễm  TSV  giảm  dần.  Ví  dụ, trong khi tỉ lệ sống sót trung bình của các gia đình tôm sau 5 thế hệ chọn giống tăng từ 44 lên 84%, thì hệ số biến đổi của  tôm sống sót sau  cảm nhiễm TSV  lại giảm  từ 43.3% xuống 13.6% (Hình 1 và 2).
Đến nay, quá trình chọn lọc đã trải qua 15 thế hệ và thế hệ gần đây nhất có tỉ lệ sống sót là 80% sau khi cảm nhiễm TSV, kể cả chủng virút  TSV  gây  bệnh  rất  mạnh được phân lập ở Belize. Đặc biệt, một  số  gia  đình  tôm  trong mỗi lứa có tỉ lệ sống sót lên tới 100%.Vì đã đạt được mức độ kháng TSV  cao  và  ngày  càng  tiến  bộ hơn, nên những nỗ  lực chọn  lọc hiện  nay  đang  hướng  sang  các dòng  có  đặc  điểm  quan  trọng khác về mặt kinh  tế như  tốc độ tăng  trưởng  và  tỷ  lệ  sống  cao trong nuôi thương phẩm.
Sự tương quan về gen
Trong  thời  gian  đầu  của chương trình chọn giống người ta đã quan ngại về mối tương quan tiêu  cực  giữa  khả  năng  kháng TSV và  tốc độ  tăng  trưởng. Tuy nhiên,  trong  những  thế  hệ  gần đây đã nhận thấy sự tương quan kiểu  hình  giữa  các  đặc  tính  đó là không  lớn, biến đổi  từ  tương quan  hơi  tích  cực  đến  hơi  tiêu cực.  Điều  này  cũng  thấy  trong mối  quan  hệ  giữa  số  tôm  sống sót qua cảm nhiễm TSV và tỷ  lệ sống trong nuôi thương phẩm.Nếu  thực  sự  có  quan  hệ  tỷ lệ  nghịch  giữa  khả  năng  sống sót qua cảm nhiễm TSV và tỷ  lệ sống  trong  nuôi  thương  phẩm, thì quan hệ này cũng rất yếu và không cản trở đáng kể khả năng cải  thiện  gen  cho  cả  2  đặc  tính này. Trên thực tế, đàn tôm giống kháng  TSV  ở  Viện  Hải  dương học có tốc độ tăng trưởng tốt và tỉ  lệ  sống  cao. Dòng  tôm kháng TSV  tăng  trưởng  tốt  trong kiểm nghiệm với mật độ thả 363 con/m2  trong  hệ  thống  nuôi  tuần hoàn.  Sau  69  ngày,  các  giá  trị trọng lượng thân trung bình khi thu hoạch, tăng trưởng mỗi tuần và tỉ lệ sống tương ứng là 19,3g; 1,8g; và 87%.
Khi  cho  thử  cảm  nhiễm  với virut  đốm  trắng  (WSSV),  virút đầu vàng (YHV) và virút gây teo cơ (IMNV), nhận thấy tôm chọn ọc  kháng  TSV  của  USMSFP không  có  khả  năng  kháng  các bệnh  liên  quan  đến  virút  khác. Qua thử nghiệm, hầu hết các gia đình tôm đều chết 100%.
Nhân giống cận huyết
Các nghiên cứu của viện Hải dương  học  cho  thấy  việc  nhân giống  cận  huyết  làm  suy  giảm nghiêm  trọng  khả  năng  kháng TSV. Hơn nữa, mức độ suy thoái do  giao  phối  cận  huyết  (IBD) còn có thể phụ thuộc vào chủng virút.  Hệ  số  IBD  ước  tính  cho TSV phân lập ở Hawai và Texas tương  ứng  là  -8.3%  và  -11.1%, nhưng  IBD với virút phân  lập ở Blize lên tới -31.4%.
Những ảnh hưởng đối với ngành sản xuất
Từ chương trình của USMSFP, Viện Hải dương học đã định kỳ cung  cấp  tôm giống kháng TSV dưới dạng hậu ấu trùng của các gia  đình  tôm  khỏe  nhất  từ mỗi thế hệ tới những người sản xuất Mỹ . Sau 7 năm, khoảng 700.000 con  tôm  đã  được  chuyển  giao cho nông dân Mỹ và các nhà sản xuất tôm giống, cùng một lượng nhỏ  tôm được  gửi đến  các  viện nghiên cứu Mỹ.
Hậu duệ của tôm kháng TSV đã được XK ra toàn thế giới. Đến nay,  việc  sử  dụng  dòng  tôm L.vannamei  kháng  TSV  đã  trở thành rất phổ biến trên thế giới.
                 Hằng Vândịch   
Global Aquaculture , Advocate, 1-2/2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét