Việc phối hợp công nghệ biofloc với các modul an toàn sinh học trong nuôi tôm có thể giúp các doanh nghiệp phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế hơn.
Công nghệ biofloc ngày càng phổ biến trong nuôi tôm chân trắng Litopenaeus vannamei. Công nghệ này do GS Yoram Avnimelech phát triển ở Israel và được Robins McIntosh triển khai áp dụng đầu tiên trong nuôi tôm thương phẩm ở Belize. Tác giả của bài viết cũng đang áp dụng thành công công nghệ này tại các cơ sở nuôi tôm ở Inđônêxia và Malaixia.
Sự kết hợp của hai công nghệ, thu tỉa (thu hoạch một phần) và biofloc, đang được nghiên cứu ở miền Bắc Sumatra, Inđônêxia. Các công nghệ đó còn được kết hợp thành công với hệ thống nuôi theo module an toàn sinh học và sự kết hợp mới này có thể giúp cho các doanh nghiệp sản xuất bền vững và có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Quá trình tiến bộ của các cơ sở nuôi
An toàn sinh học (ATSH) là yếu tố then chốt đối với nghề nuôi tôm bền vững. Thiết kế và xây dựng cơ sở nuôi là bước khởi đầu cho ATSH.
Vào cuối những năm 1980, hầu hết các cơ sở nuôi tôm ở châu Á được thiết kế với các hệ thống nước chảy xuyên suốt từ đầu đến cuối quá trình nuôi. Hình mẫu tiêu biểu nhất là cơ sở nuôi lớn có tên Dipasena ở Lampung, Inđônêxia, ở đó có hệ thống kênh ở hai đầu đối diện để cấp và thoát nước cho các dãy ao nuôi. Hệ thống này hoạt động tốt, nhưng khi xuất hiện các đợt bùng phát dịch bệnh do vi khuẩn vào đầu những năm 1990 thì người nuôi buộc phải xây dựng thêm các ao lắng nhằm quản lý và kiểm soát các vấn đề về vi khuẩn.
C.P. Inđônêxia đã thiết kế một cơ sở nuôi tôm lớn với các hệ thống nước tái tuần hoàn với nhiều ao lắng và ao chứa nước để giải quyết các vấn đề về vi khuẩn. Tuy nhiên, khoảng giữa những năm 1990, các loại dịch bệnh do virut phát triển mạnh, nhất là hội chứng đốm trắng, nên cần thay đổi thiết kế cơ sở nuôi để có thể xử lý nước đầu vào trước khi đưa vào ao nuôi.
Một module thiết kế mới đây do Blue Archipelago Berhad áp dụng ở Malaixia gồm 2 hệ thống với 4 ao lắng, chiếm khoảng 20% diện tích nuôi. Hệ thống này chỉ có một cửa cấp nước tự nhiên. Dòng nước phải đi qua 4 ao chứa trước khi đi vào kênh cấp nước chính của module. Sau khi được xử lý, từ kênh chính, nước sẽ được phân phối cho các ao nuôi.
Hệ thống biofloc
Các yêu cầu cơ bản để phát huy tốt nhất công nghệ nuôi tôm biofloc thương phẩm bền vững là các ao nuôi được lót bê tông hoặc bạt nhựa cứng (HDPE). Thả giống với mật độ cao, 130-150 con/m2, và tốc độ sục khí cao với công suất 28-32CV/ha. Lắp quạt nước sục khí trong ao để duy trì hàm lượng oxy hòa tan cao và gom bùn lắng về khu vực giữa ao. Hệ thống xiphông sẽ hút bùn ra theo định kỳ khi cần thiết.
Sục khí giữ cho biofloc luôn lơ lửng trong nước ao – đây là yêu cầu chính để phát huy tốt nhất khả năng hoạt động của các qui trình vi sinh trong ao nuôi tôm. Biofloc lơ lửng cũng là nguồn thức ăn sẵn có cho tôm.
Sử dụng ngũ cốc dạng viên và rỉ đường để duy trì tỷ lệ C/ N>15. Bên cạnh các hóa chất đặc trưng như dolomite và vôi, cần sử dụng thêm cao lanh trong quá trình chuẩn bị nước ao và trong thời gian nuôi. Cao lanh được bón mỗi tuần một hay hai lần khoảng 50-100kg/ha.
Vận hành và kiểm soát
Chỉ nên sử dụng nước đã qua xử lý. Thông thường, trước khi đưa vào các ao chứa hay ao nuôi, nước đầu vào nên lọc qua lưới 250-μ để ngăn chặn ấu trùng giáp xác (nhất là cua). Xử lý nước bằng chất diệt giáp xác để triệt tất cả các loài giáp xác và trứng của chúng còn lại trong nước. Đồng thời, phải giữ nước trong các ao chứa hoặc ao nuôi ít nhất là 74 giờ để xử lý thật ngấu. Quá trình chứa nước này giúp loại bỏ mọi phần tử virút trong đó.
Trước khi thả tôm, yếu tố quan trọng nhất là đảm bảo việc lọc nước, đồng thời áp dụng có hiệu quả việc xử lý hóa chất và giữ nước ngấu. Chỉ nên thả tôm giống sạch bệnh (SPF).
Khi đã thả giống vào ao, yếu tố chính cần kiểm soát là khối lượng biofloc. Sử dụng phễu Imhoff để đánh giá và nên duy trì khối lượng biofloc ở mức dưới 15ml/l. Cần lấy đồng thời ít nhất là hai mẫu từ hai vị trí nằm dưới bề mặt nước ao nuôi. Nước có màu xanh lá cây hay nâu thì chấp nhận được, nhưng nước màu đen là biểu hiện của các điều kiện bất thường.
Thức ăn dạng viên chế biến từ ngũ cốc và mật đường cung cấp nguồn carbon cần thiết. Nói chung, nên sử dụng ngũ cốc dạng viên với lượng bằng 15-20% tổng lượng thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi. Có thể dùng mật đường hai hay ba lần/tuần theo liều lượng khoảng 15 – 20kg/ha ao nuôi. Cố gắng thường xuyên theo dõi lượng oxy hòa tan để giữ chúng luôn ở mức trên 4mg/l. Đặc biệt trong các hệ thống sản xuất bioflocs, cần theo dõi liên tục hoạt động sục khí để có thể kịp thời sửa chữa hoặc thay thế khi có sự cố.
Hiệu suất trong hoạt động nuôi
So sánh hiệu quả nuôi theo dự kiến của hệ thống nuôi tôm dùng biofloc với hệ thống nuôi tôm tự dưỡng truyền thống được thể hiện trong Bảng 1.
Trong các hệ thống nuôi dùng biofloc, tôm lớn nhanh và cho sản lượng thu hoạch cao hơn. Hệ số thức ăn tốt hơn trong hệ thống này, do đó chi phí thức ăn thấp hơn.
Với công nghệ biofloc, việc thay nước ít hơn và các hệ thống ao nuôi ổn định hơn so với hệ thống nuôi tự dưỡng. Hệ thống nuôi tôm biofloc cho sản lượng cao hơn nên cũng cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng.
Các ứng dụng khác
Công nghệ biofloc cũng được áp dụng ở các hệ thống kênh mương nhân tạo nuôi thâm canh có thể sản xuất trên 9kg tôm/m³. Những ứng dụng trong nuôi ở các hệ thống kênh mương nhân tạo đã hỗ trợ cho các công đoạn ương giống, nuôi lớn và nuôi tôm bố mẹ, cũng như tuyển chọn các dòng phả hệ tôm giống.
Hiện nay, một số trường đại học lớn và các công ty tư nhân đang nghiên cứu sử dụng biofloc làm nguồn cung cấp protein đơn bào cho sản xuất thức ăn thủy sản. Theo một số tác giả, hàm lượng protein thô trong biofloc chiếm khoảng 35- 50% và lipid thô chiếm khoảng 0,6 -12% khối lượng. Biofloc có thể hơi thiếu arginine, lysine, methionine. Tỷ trọng tro đo được chiếm khoảng 21% – 32% khối lượng.
Triển vọng
Trong NTTS, sử dụng hiệu quả thức ăn, thời gian, năng lượng, sự ổn định và bền vững của hệ thống đều giúp tăng lợi nhuận. Công nghệ biofloc đáp ứng được các yêu cầu đó. Với dịch bệnh virut và chi phí năng lượng tăng, công nghệ biofloc kết hợp với các hệ thống module ATSH có thể là giải pháp cho ngành NTTS hiệu quả, bền vững và lợi nhuận cao hơn.
Trung Mai dịch, Advocate
Theo vietfish.org
Công nghệ biofloc ngày càng phổ biến trong nuôi tôm chân trắng Litopenaeus vannamei. Công nghệ này do GS Yoram Avnimelech phát triển ở Israel và được Robins McIntosh triển khai áp dụng đầu tiên trong nuôi tôm thương phẩm ở Belize. Tác giả của bài viết cũng đang áp dụng thành công công nghệ này tại các cơ sở nuôi tôm ở Inđônêxia và Malaixia.
Sự kết hợp của hai công nghệ, thu tỉa (thu hoạch một phần) và biofloc, đang được nghiên cứu ở miền Bắc Sumatra, Inđônêxia. Các công nghệ đó còn được kết hợp thành công với hệ thống nuôi theo module an toàn sinh học và sự kết hợp mới này có thể giúp cho các doanh nghiệp sản xuất bền vững và có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Quá trình tiến bộ của các cơ sở nuôi
An toàn sinh học (ATSH) là yếu tố then chốt đối với nghề nuôi tôm bền vững. Thiết kế và xây dựng cơ sở nuôi là bước khởi đầu cho ATSH.
Vào cuối những năm 1980, hầu hết các cơ sở nuôi tôm ở châu Á được thiết kế với các hệ thống nước chảy xuyên suốt từ đầu đến cuối quá trình nuôi. Hình mẫu tiêu biểu nhất là cơ sở nuôi lớn có tên Dipasena ở Lampung, Inđônêxia, ở đó có hệ thống kênh ở hai đầu đối diện để cấp và thoát nước cho các dãy ao nuôi. Hệ thống này hoạt động tốt, nhưng khi xuất hiện các đợt bùng phát dịch bệnh do vi khuẩn vào đầu những năm 1990 thì người nuôi buộc phải xây dựng thêm các ao lắng nhằm quản lý và kiểm soát các vấn đề về vi khuẩn.
C.P. Inđônêxia đã thiết kế một cơ sở nuôi tôm lớn với các hệ thống nước tái tuần hoàn với nhiều ao lắng và ao chứa nước để giải quyết các vấn đề về vi khuẩn. Tuy nhiên, khoảng giữa những năm 1990, các loại dịch bệnh do virut phát triển mạnh, nhất là hội chứng đốm trắng, nên cần thay đổi thiết kế cơ sở nuôi để có thể xử lý nước đầu vào trước khi đưa vào ao nuôi.
Một module thiết kế mới đây do Blue Archipelago Berhad áp dụng ở Malaixia gồm 2 hệ thống với 4 ao lắng, chiếm khoảng 20% diện tích nuôi. Hệ thống này chỉ có một cửa cấp nước tự nhiên. Dòng nước phải đi qua 4 ao chứa trước khi đi vào kênh cấp nước chính của module. Sau khi được xử lý, từ kênh chính, nước sẽ được phân phối cho các ao nuôi.
Hệ thống biofloc
Các yêu cầu cơ bản để phát huy tốt nhất công nghệ nuôi tôm biofloc thương phẩm bền vững là các ao nuôi được lót bê tông hoặc bạt nhựa cứng (HDPE). Thả giống với mật độ cao, 130-150 con/m2, và tốc độ sục khí cao với công suất 28-32CV/ha. Lắp quạt nước sục khí trong ao để duy trì hàm lượng oxy hòa tan cao và gom bùn lắng về khu vực giữa ao. Hệ thống xiphông sẽ hút bùn ra theo định kỳ khi cần thiết.
Sục khí giữ cho biofloc luôn lơ lửng trong nước ao – đây là yêu cầu chính để phát huy tốt nhất khả năng hoạt động của các qui trình vi sinh trong ao nuôi tôm. Biofloc lơ lửng cũng là nguồn thức ăn sẵn có cho tôm.
Sử dụng ngũ cốc dạng viên và rỉ đường để duy trì tỷ lệ C/ N>15. Bên cạnh các hóa chất đặc trưng như dolomite và vôi, cần sử dụng thêm cao lanh trong quá trình chuẩn bị nước ao và trong thời gian nuôi. Cao lanh được bón mỗi tuần một hay hai lần khoảng 50-100kg/ha.
Vận hành và kiểm soát
Chỉ nên sử dụng nước đã qua xử lý. Thông thường, trước khi đưa vào các ao chứa hay ao nuôi, nước đầu vào nên lọc qua lưới 250-μ để ngăn chặn ấu trùng giáp xác (nhất là cua). Xử lý nước bằng chất diệt giáp xác để triệt tất cả các loài giáp xác và trứng của chúng còn lại trong nước. Đồng thời, phải giữ nước trong các ao chứa hoặc ao nuôi ít nhất là 74 giờ để xử lý thật ngấu. Quá trình chứa nước này giúp loại bỏ mọi phần tử virút trong đó.
Trước khi thả tôm, yếu tố quan trọng nhất là đảm bảo việc lọc nước, đồng thời áp dụng có hiệu quả việc xử lý hóa chất và giữ nước ngấu. Chỉ nên thả tôm giống sạch bệnh (SPF).
Khi đã thả giống vào ao, yếu tố chính cần kiểm soát là khối lượng biofloc. Sử dụng phễu Imhoff để đánh giá và nên duy trì khối lượng biofloc ở mức dưới 15ml/l. Cần lấy đồng thời ít nhất là hai mẫu từ hai vị trí nằm dưới bề mặt nước ao nuôi. Nước có màu xanh lá cây hay nâu thì chấp nhận được, nhưng nước màu đen là biểu hiện của các điều kiện bất thường.
Thức ăn dạng viên chế biến từ ngũ cốc và mật đường cung cấp nguồn carbon cần thiết. Nói chung, nên sử dụng ngũ cốc dạng viên với lượng bằng 15-20% tổng lượng thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi. Có thể dùng mật đường hai hay ba lần/tuần theo liều lượng khoảng 15 – 20kg/ha ao nuôi. Cố gắng thường xuyên theo dõi lượng oxy hòa tan để giữ chúng luôn ở mức trên 4mg/l. Đặc biệt trong các hệ thống sản xuất bioflocs, cần theo dõi liên tục hoạt động sục khí để có thể kịp thời sửa chữa hoặc thay thế khi có sự cố.
Hiệu suất trong hoạt động nuôi
So sánh hiệu quả nuôi theo dự kiến của hệ thống nuôi tôm dùng biofloc với hệ thống nuôi tôm tự dưỡng truyền thống được thể hiện trong Bảng 1.
Trong các hệ thống nuôi dùng biofloc, tôm lớn nhanh và cho sản lượng thu hoạch cao hơn. Hệ số thức ăn tốt hơn trong hệ thống này, do đó chi phí thức ăn thấp hơn.
Với công nghệ biofloc, việc thay nước ít hơn và các hệ thống ao nuôi ổn định hơn so với hệ thống nuôi tự dưỡng. Hệ thống nuôi tôm biofloc cho sản lượng cao hơn nên cũng cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng.
Các ứng dụng khác
Công nghệ biofloc cũng được áp dụng ở các hệ thống kênh mương nhân tạo nuôi thâm canh có thể sản xuất trên 9kg tôm/m³. Những ứng dụng trong nuôi ở các hệ thống kênh mương nhân tạo đã hỗ trợ cho các công đoạn ương giống, nuôi lớn và nuôi tôm bố mẹ, cũng như tuyển chọn các dòng phả hệ tôm giống.
Hiện nay, một số trường đại học lớn và các công ty tư nhân đang nghiên cứu sử dụng biofloc làm nguồn cung cấp protein đơn bào cho sản xuất thức ăn thủy sản. Theo một số tác giả, hàm lượng protein thô trong biofloc chiếm khoảng 35- 50% và lipid thô chiếm khoảng 0,6 -12% khối lượng. Biofloc có thể hơi thiếu arginine, lysine, methionine. Tỷ trọng tro đo được chiếm khoảng 21% – 32% khối lượng.
Triển vọng
Trong NTTS, sử dụng hiệu quả thức ăn, thời gian, năng lượng, sự ổn định và bền vững của hệ thống đều giúp tăng lợi nhuận. Công nghệ biofloc đáp ứng được các yêu cầu đó. Với dịch bệnh virut và chi phí năng lượng tăng, công nghệ biofloc kết hợp với các hệ thống module ATSH có thể là giải pháp cho ngành NTTS hiệu quả, bền vững và lợi nhuận cao hơn.
Trung Mai dịch, Advocate
Theo vietfish.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét