Pages

Được tạo bởi Blogger.

12/10/13

Chương trình 7 bước kiểm soát hiệu quả virus hội chứng đốm trắng trên tôm


THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 149 | Tháng 05, 06/2012

Các nghiên cứu về virus hội chứng đốm trắng (WSSV) vẫn đang dở dang, nhưng thực hiện các bước khôn ngoan vẫn có thể hạn chế được những tác động của WSSV trong hoạt động nuôi tôm.

    Đầu tiên là việc làm sạch con giống. Tẩy trùng ao nuôi trước khi thả giống. Bất cứ lúc nào cũng phải lọc toàn bộ nước đưa vào ao nuôi. Thả giống một cách cẩn trọng. Kiểm soát mọi thứ có thể làm được và theo dõi ao nuôi hàng ngày. Khép kín hệ thống ao nuôi và sẵn sàng tiến hành thử nghiệm những vấn đề có tính khoa học.
Năm ngoái, dịch bệnh đốm trắngtồi tệ lại xuất hiện. Loại virus gây sự chú ý về mặt khoa học này là một trong những phát hiện lớn nhất và là chủ đề của hàng chục, nếu không nói là hàng trăm ấn phẩm của các tạp chí thu hút độc giả.
Có hàng chục nhóm đã nhân bản các thành phần cấu trúc lớp vỏ protein bên ngoài của tôm trở thành các vật chủ trung gian mang virus và mang bệnh khác, đồng thời cho thấy những tác động trước mắt đối với những vật chủ trung gian mang bệnh trong các điều kiện có kiểm soát. Hoạt động này vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu trong các điều kiện thực tiễn trên thế giới, nhưng việc thực hiện những bước khôn ngoan có thể sẽ hạn chế bớt những tác động nặng nề của dịch bệnh đốm trắng đối với các hoạt động nuôi tôm.
Lựa chọn con giống
Trước tiên, phải có sự lựa chọn khi mua con giống. Tuy nhiên, nếu chỉ kiểm tra bằng PCR thì vẫn chưa đủ nếu không có một hệ thống sản xuất giống sạch bệnh (không mang một số bệnh cụ thể - SPF) đã được chứng nhận (không chỉ có công bố) nhằm đảm bảo con giống bố mẹ không mang virus. Vì dịch bệnh đốm trắng có thể ngủ im trong tôm bố mẹ và kiểm tra PCR cũng không thể phát hiện ra. Phải có hồ sơ quá trình các đợt thanh tra và thẩm định để hậu thuẫn cho các công bố về nguồn tôm bố mẹ sạch bệnh.
Nên sử dụng các con tôm bố mẹ sạch bệnh, nếu không phải yêu cầu cơ sở sản xuất giống kiểm tra tôm bố mẹ được nuôi giữ trong nước có nhiệt độ thấp. Nếu con tôm bố mẹ trong suốt vòng đời được nuôi trong môi trường không kiểm soát, thì chúng là những con bố mẹ không sạch bệnh. Nuôi trong môi trường có kiểm soát nghĩa là an toàn sinh học và khép kín.
Việc kiểm tra tôm giống cũng không có tác dụng lắm, xét nghiệm thể hiện dương tính có nghĩa là có vấn đề, còn âm tính chỉ có nghĩa là các xét nghiệm không phát hiện ra sự có mặt của ADN của virus. Việc kiểm tra tôm trong một đầm nuôi tuy rất hữu ích nhưng thiếu hệ thống an toàn sinh học và khép kín thì cũng không đáng tin cậy.
Tóm lại, không bao giờ được mua con giống có biểu hiện dương tính qua kiểm tra PCR và cũng không bao giờ được mua con giống từ cơ sở sản xuất giống không đủ căn cứ cho thấy sạch bệnh. Nếu chủ cơ sở sản xuất giống nào không có đủ sự tin cậy đối với khách hàng thì cũng không nên mua con giống ở đấy.
Chuẩn bị ao nuôi
Bước thứ hai là việc chuẩn bị ao nuôi. Ở hầu hết các nước đang nuôi tôm, dịch bệnh đốm trắng có tính địa phương và lây lan, một phần là do không tuân thủ những nguyên tắc cơ bản. Có thể hạn chế được rất nhiều vật chủ trung gian mang bệnh nhưng không thể tiêu diệt sạch được chúng.
Đưa nước vào ao nuôi và xử lý nước ít nhất là với chlorine 25 ppm (phần triệu) hoặc có thể dùng chlorine ở mức cao vừa đủ để có thể tiêu diệt hết bất cứ loại virus trôi nổi tự do nào. Việc xử lý này không có gì khó, trừ khi nguồn nước có nhiều tôm bị chết do dịch bệnh đốm trắng và phần lớn các vật chủ trung gian mang bệnh như ấu trùng cua lại mang virus. Những ao bẩn có thể cần mức chlorine cao hơn, thậm chí có thể phải xử lý nước nhiều lần.
Biện pháp khác là có thể dùng các loại thuốc tẩy trùng, nhưng cần lưu ý là các biện pháp này đều có các yêu cầu cơ bản. Khuyến cáo của các nhà cung cấp thường dựa trên các quan sát ở phòng thí nghiệm về tác dụng của các loại thuốc và họ luôn cố gắng giữ giá thành sản phẩm ở mức thấp để thu hút khách hàng, vì vậy ngay cả khi dùng ở mức liều lượng được khuyến cáo thì những loại thuốc này vẫn không có tác dụng.
Trước khi xuống giống, cần đảm bảo rằng ao nuôi đã được khử hoạt tính hoàn toàn đối với chlorine. Tuyệt đối không sử dụng các loại hóa chất và thuốc trừ sâu bị cấm. Sục khí và kiên trì để chlorine bốc hơi hết.
Chuẩn bị nguồn nước dùng cho nuôi tôm
Bất cứ lúc nào cũng phải lọc toàn bộ nguồn nước được đưa vào ao nuôi tôm. Không được lơ là với nguyên tắc này và không vì bất cứ lý do gì cho phép công nhân bỏ qua công đoạn này. Vì chỉ cần một con tôm từ tự nhiên bị nhiễm bệnh nhẹ cũng đã đủ để dịch bệnh bùng phát và chỉ trong một tích tắc mất cảnh giác sẽ có một lượng vật chủ trung gian mang bệnh lọt vào ao nuôi.
Chuẩn bị tôm giống để thả nuôi 
Thả giống vào ao nuôi thật thận trọng, tránh gây đột ngột cho tôm và sử dụng hệ thống kiểm tra cho biết tình trạng của tôm sau khi thả vào ao. Chẳng hạn như trong lồng chỉ còn sống sót khoảng 50 con giống cũng có thể là một chỉ số cho thấy quá trình gây sốc. Việc vận chuyển và làm tôm giống thích nghi với môi trường và thổ nhưỡng là những bước thực hiện quan trọng sau cùng. Cần đảm bảo sử dụng axit ascobic 25-50ppm trong hệ thống đã thích nghi này.
Kiểm soát mọi điều có thể
Người phụ trách nuôi tôm bắt buộc phải theo dõi ao nuôi hằng ngày. Những người chủ điều hành cơ sở nuôi thông minh thường yêu cầu người nuôi báo cáo các vấn đề về hành vi hoạt động của tôm và những thay đổi về môi trường, chứ không chỉ riêng việc tôm bị bệnh.
Hàng tuần, cần giám sát sự xuất hiện của cua và các vật chủ trung gian mang bệnh khác trong nước và nếu thấy cần thiết thì lấy mẫu tôm ngẫu nhiên để kiểm tra. Trong giai đoạn đầu bị nhiễm bệnh, tôm có thể mang virus hội chứng đốm trắng nhưng chưa có biểu hiện bị bệnh.
Thực hiện kiểm tra đàn tôm với hai mục tiêu, một là để phát hiện những con yếu và đang chết dần, hai là để xác định chúng bị nhiễm bệnh gì. Hầu hết các cơ sở nuôi tôm đều hiểu biết rất ít về loại bệnh đã làm tôm của họ chết.
Các xét nghiệm PCR mất thời gian và chi phí tốn kém cũng rất bất thường, vì vậy tổng virus xuất hiện trong xét nghiệm đủ để biểu hiện dương tính cũng không có mấy tác dụng trong việc tiên lượng sự bùng phát dịch bệnh, có thể dẫn đến việc lựa chọn thời điểm thu hoạch không đúng. Thu hoạch quá sớm hoặc quá muộn có thể dẫn đến thiệt hại quá mức cần thiết.
Rất may, đến nay trên thị trường đã có một loại que xét nghiệm nhanh, nhạy, không tốn kém và đơn giản, xác định nhanh chóng sự có mặt của virus. Công nghệ này dựa trên cơ sở phân tích chất hấp thụ miễn dịch liên quan tới enzyme, giống như công nghệ sử dụng trong que xét nghiệm có thai, đây có thể là máy “báo động đỏ” của cơ sở nuôi.  Khi thấy có biểu hiện dương tính trong xét nghiệm ELISA, nghĩa là môi trường đã có virus và có thể làm cho tôm bị chết dần.
Lưu ý rằng quần thể virus phát triển mạnh khiến tốc độ lan truyền trong tôm cũng tăng lên nhanh chóng. Khi bị virus làm chết, những con tôm này lại đẩy ra môi trường một lượng lớn virus và càng tăng khả năng bị nhiễm các loại vi khuẩn khác. Ngay cả khi không có các bệnh dịch khác thì chính virus này cũng chắc chắn có thể giết chết tôm. Tôm yếu càng dễ bị nhiễm vibrio và các loại vi khuẩn cơ hội khác. Vì vậy rất cần phải hạ thấp mức tổng khuẩn và virus.
Các hệ thống khép kín
Đến nay, các hệ thống nuôi mở đã quá lạc hậu và không có tác dụng trước những nguy cơ rủi ro. Do đó cần phải khép kín hệ thống ao nuôi.
Bí quyết của những ao nuôi khép kín thực ra không phải như mọi người thường suy nghĩ. Đó là sục khí ao nuôi khi vào mùa thu hoạch với ít nhất là cứ 5 mã lực cho một khối lượng 500 kg tôm. Nếu dự kiến thu hoạch 3 tấn tôm thì sử dụng sáu máy sục khí cánh quạt nước 5 mã lực để đảm bảo có đủ ôxy, không để việc thiếu ôxy trở thành một yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi và gây sự căng thẳng cho tôm do lượng ôxy hòa tan thấp và không góp phần làm tăng khả năng mẫn cảm với dịch bệnh của tôm.
Tuy nhiên, các hệ sinh vật trong ao nuôi cũng sẽ phát triển theo đầu vào thường xuyên của thức ăn, phân thải, vỏ lột và các chất hữu cơ khác. Vì vậy, cần phải theo dõi và có thể tăng cường môi trường thông qua việc sử dụng các phương pháp xử lý bằng vi sinh có hiệu quả.
Chịu khó học hỏi
Học hỏi rất quan trọng, phải luôn luôn tìm hiểu và thử nghiệm những vấn đề khoa học. Sau đây là một vài điều cần biết thêm về virus hội chứng đốm trắng:
-       Giống như nhiều loại virus khác, virus hội chứng đốm trắng sẽ có nhiều chủng phụ xuất hiện trong quá trình dịch bệnh bùng phát trong ao nuôi.
-       Các chủng này có thể khác nhau về khả năng gây ra dịch bệnh và đây là một lý do quan trọng trong việc giảm tải lượng virus trong ao nuôi và môi trường trực tiếp.
-       Ngay cả khi thành công trong việc kiểm soát sự xâm nhập của virus vào cơ sở nuôi, thì những hoạt động của các cơ sở nuôi lân cận khác cũng vẫn có tác động rất lớn tới các hoạt động nuôi của cơ sở này.
-       Hiện nay chưa có phương pháp thần kỳ nào loại trừ được virus hội chứng đốm trắng, nhưng có nhiều quy trình có thể giúp hạ thấp mức tổng khuẩn trong tôm và môi trường nuôi.
Triển vọng
Virus hội chứng đốm trắng vẫn đang tồn tại. Nó phát triển và khó khăn ngày càng nặng nề hơn ở một số vùng nuôi. Vì vậy, hãy làm mọi cách để có thể hạn chế những tác động của virus. Không nên tin vào những lời lừa phỉnh bán hàng và những gói tiếp thị mời chào các phương pháp cứu chữa hoàn hảo và cách phòng ngừa tuyệt đối vì đơn giản là không hề có những phương pháp như vậy đối với virus trong tôm.
Stephen G.Newman
Phương Mai dịch
Global Aquaculture Advocade, N 3-4/2012

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét