THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 140 | Tháng 8/2011
Men bia là loài nấm đơn bào có tính trạng trội hoặc vĩnh cửu. Chúng là các vi sinh nhân chuẩn (eukaryotic) và các đặc tính của chúng khác vi khuẩn tiền nhân (prokaryotic).
Trong các giống men bia, men Saccharomyces cerevisiae rất quan trọng trong công nghiệp nhờ khả năng chuyển hóa đường (như gluco, mantoza) thành cồn và cácbon điôxit khi làm bánh, rượu bia, chưng cất nhiên liệu lỏng. Saccharomyces cerevisiae đã được Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấp chứng nhận GRAS là sản phẩm tuyệt đối an toàn.
Do có hàm lượng protein cao, từ lâu men bia đã được sử dụng trong NTTS như một nguồn protein bổ sung cho các nguồn khác hoặc thay thế bột cá. Trong thử nghiệm trên cá hồi vân, nấm men có khả năng thay thế 40% bột cá. Men Saccharomyces cerevisiae từ ngành sản xuất bánh kẹo là thành phần chính để phát triển sản xuất luân trùng và là chất thay thế cho tảo sống. Men Saccharomyces cerevisiae đặc biệt hữu ích do có khả năng chịu mặn tốt, nhưng cần phá vỡ thành tế bào dầy của nó để bảo đảm khả năng hấp thụ protein hiệu quả.
Một ứng dụng quan trọng khác là sản xuất chất astxanthin bằng men bia Phaffia rhodozyma. Loại men này có chi phí cao hơn và tỉ lệ liên kết thấp hơn men bia tổng hợp nên được sử dụng ít hơn trong ngành nuôi cá hồi. Tuy nhiên, nó thích hợp để làm phụ gia thức ăn trong nuôi cá hồi hữu cơ vì ngành này bị cấm sử dụng chất astaxathin.
Càng ngày ngươi ta càng quan tâm tìm cách sử dụng nấm men trong NTTS với nhiều ứng dụng mới để tăng cường thể chất và hệ thống miễn dịch như bổ sung chất dinh dưỡng bằng men bia sống hoặc các chất có nguồn gốc từ nấm men như tế bào nấm men hoặc cao nấm men.
Men bia sống
Men bia sống hoạt động như các vi khuẩn có lợi trong ruột cá và được chứng minh có tác dụng với hệ miễn dịch và quá trình trao đổi chất. Ví dụ, cho ăn P.rhodozyma và men Saccharomyces cerevisiae với tỷ lệ 0,1% thức ăn có thể giúp hậu ấu trùng tôm chân trắng tăng tỷ lệ sống và kháng bệnh rõ rệt. Tôm có tỉ lệ sống cao hơn khi ăn men bia P.rhodozyma có thể là do khả năng chống oxi hóa của carotin có trong men này. Khả năng chống lại stress oxi hóa tương tự cũng được tìm thấy ở ấu trùng cá tráp. Nếu bổ sung 4,3% nấm men Debaryomyces hansenii, một loại men tách ra từ ruột cá hồi vân, có thể duy trì hoạt động của các chất chống ôxi hóa như Superoxide Dismutase (SOD) và chất glutathione peroxidase. Đối với cá chép, men Saccharomyces cerevisiae trộn với thức ăn theo tỉ lệ 1g/kg đã cải thiện được tốc độ tăng trưởng và hệ số thức ăn. Một cuộc nghiên cứu khác trên cá rô phi giống cho thấy men bia Saccharomyces cerevisiae được sử dụng với liều lượng tương tự có tác dụng kích thích tăng trưởng và giảm căng thẳng cho cá.
Thành tế bào nấm men
Thành tế bào nấm men (YCW) có cấu trúc dày và phức tạp trong tế bào. Nó bao gồm thành tế bào và màng huyết thanh. Đây là bột trung tính, có mùi men bia và dễ hòa tan. YCW được Công ty Phụ gia Thức ăn Lesaffre (LFA) sản xuất từ sản phẩm đơn bào và không phải là phụ phẩm của ngành công nghiệp lên men, qua tinh chế, beta-glucan có thể tăng lên trong YCW. Trong những năm2006-2008, một số thử nghiệm đã được thực hiện LFA để đánh giá vai trò khác nhau của YCW và cao nấm men trong thủy sản.
Thử nghiệm trên cá rô phi
Thử nghiệm ở bể nuôi được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Thú y Thủy sản, Khoa Thú y, Đại học Chulalongkorn, Thái Lan, thực hiện.
Cá rô phi giống có cân nặng 1g, thử nghiệm nuôi 3 tháng trong bể 50lít với 30 con/bể. Cá được ăn thành tế bào nấm men (YCW) ở 5 chế độ khác nhau bằng 0, 100, 500, 1000 và 2000ppm.
Nhằm đánh giá khả năng chịu sức ép của cá, hàm lượng ammoniắc được điều chỉnh ở mức 0,5mg/l. Hàm lượng thành tế bào nấm men trên 100ppm cho thấy có tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng (bảng 1), tạo ra khả năng chịu sức ép tốt hơn.
Trong suốt thời gian thử nghiệm, mỗi tháng 1 lần bắt từ mỗi mẫu thí nghiệm 5 con cá, tiêm vào bụng Streptococcus nhóm B lượng gây chết trung bình trong khoảng 105 cfu/cá. Tỉ lệ chết của cá được ghi lại trong 7 ngày. Bảng 2 cho thấy cá trị liệu bằng YCW có tỉ lệ sống cao hơn.
Để khẳng định kết quả này, tiếp tục thực hiện thí nghiệm tương tự đối với cá nuôi lồng thương phẩm trong 3 tháng tại Nakon Nayok và chỉ áp dụng nồng độ 500 và 1000ppm. 3 lồng cá còn lại được sử dụng để đối chứng. Mặc dù, cuối cuộc thử nghiệm, chế độ ăn YCW cho cá lớn hơn nhưng tỉ lệ tăng trưởng và hệ số thức ăn không có sự khác biệt lớn.
Một thử nghiệm men S.agalactiae khác với cá nuôi ở mật độ 20 cá/lồng cho thấy kết quả tương tự như trong bể với tỉ lệ sống tăng 50%.
Thử nghiệm trên tôm
Đại học Songkhla đã phối hợp với Viện nghiên cứu thú y thủy sản biển thử nghiệm YCW trên tôm. Tôm chân trắng nặng 1g được ăn thức ăn có trộn YCW với liều lượng 100, 500, 2000ppm trong 42 ngày (15 con/bể 50 lít, 4 mẫu). Không phát hiện thấy sự khác biệt nào về tăng trưởng, song YCW có hiệu quả hiệu quả tích cực trong việc ngăn chặn mầm bệnh. Điều này đã được khẳng định khi thử nghiệm liên tục trong bể 600 lít với tôm 2g trong 4 tuần (50 con/ao, 3 tỷ lệ phối trộn) (Bảng 3).
YCW có tác động tích cực lên hệ miễn dịch của thủy sản, đôi khi sử dụng trong NTTS để tránh suy giảm miễn dịch, có thể do beta-glucan kích thích hệ thống miễn dịch. Tuy nhiên, việc cần thiết hơn là xác định đúng liều lượng, phương pháp áp dụng YCW trong thức ăn thủy sản và giai đoạn nuôi phù hợp để đảm báo kết quả tốt nhất.
Cao nấm men
Cao nấm men là một nội bào trong tế bào men bia. Chúng gồm tế bào chất, nhân tế bào và các cơ quan tế bào và thường rất giàu axit amin, kết thành chuỗi, vitamin (vitamin B, Glutathione), cacbon hydrat và muối. Cao nấm men được tách ra từ các đoạn men bia sau khi được tự phân. Chúng được sử dụng chủ yếu để tạo ra hương vị ngon miệng tự nhiên trong ngành thực phẩm và như các chất dinh dưỡng cho việc nuôi vi khuẩn trong ngành dược phẩm. Cao nấm men có nhiều dạng khác nhau như dạng lỏng hoặc dạng bột. Cao nấm men thường có 50-75% protein, 4-13% carbon hiydrat và không có lipit.
Cao nấm men có nguồn gốc của các chuỗi tiêu hóa. Các axit amin và nucleotit tự do có thể cũng hoạt động như chất hấp dẫn trong cá. Việc bổ sung cao nấm men trong thức ăn thủy sản có khả năng tăng cường hiệu quả dinh dưỡng. Hơn nữa việc tăng thêm nucleotit trong thức ăn cho phép bổ sung chuỗi tổng hợp mới một cách hiệu quả đặc biệt khi động vật bị sức ép. Cao nấm men cũng cho thấy có thể thay thế một phần hoặc hoàn toàn bột cá trong chế độ ăn.
Thử nghiệm đối với 3 tỷ lệ phối trộn cao nấm men tiêu chuẩn của LFA ở mức 100, 500, 2000ppm cho thấy, tỷ lệ 2000ppm (2kg/ tấn thức ăn) mang đến hiệu quả đáng kể cho tốc độ tăng trưởng đối với tôm nuôi trong bể, nhưng không thấy bất cứ hiệu quả nào trên chỉ số miễn dịch (bảng 4). Cao nấm men tiêu chuẩn có khả năng cải thiện tốc độ tăng trưởng nhờ cung cấp protein dễ tiêu hóa hoặc thu hút tôm ăn.
Men bia với các tác dụng của nó có thể giải quyết tốt một số vấn đề mà ngành NTTS đang phải đối mặt, như thay thế bột cá, các vấn đề dịch bệnh vi khuẩn hoặc bệnh động thực vật ký sinh. Tuy nhiên, ngành NTTS và các nhà sản xuất men bia cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa để mang lại hiệu quả tốt nhất của các vi sinh vật “thú vị” này.
Do có hàm lượng protein cao, từ lâu men bia đã được sử dụng trong NTTS như một nguồn protein bổ sung cho các nguồn khác hoặc thay thế bột cá. Trong thử nghiệm trên cá hồi vân, nấm men có khả năng thay thế 40% bột cá. Men Saccharomyces cerevisiae từ ngành sản xuất bánh kẹo là thành phần chính để phát triển sản xuất luân trùng và là chất thay thế cho tảo sống. Men Saccharomyces cerevisiae đặc biệt hữu ích do có khả năng chịu mặn tốt, nhưng cần phá vỡ thành tế bào dầy của nó để bảo đảm khả năng hấp thụ protein hiệu quả.
Một ứng dụng quan trọng khác là sản xuất chất astxanthin bằng men bia Phaffia rhodozyma. Loại men này có chi phí cao hơn và tỉ lệ liên kết thấp hơn men bia tổng hợp nên được sử dụng ít hơn trong ngành nuôi cá hồi. Tuy nhiên, nó thích hợp để làm phụ gia thức ăn trong nuôi cá hồi hữu cơ vì ngành này bị cấm sử dụng chất astaxathin.
Càng ngày ngươi ta càng quan tâm tìm cách sử dụng nấm men trong NTTS với nhiều ứng dụng mới để tăng cường thể chất và hệ thống miễn dịch như bổ sung chất dinh dưỡng bằng men bia sống hoặc các chất có nguồn gốc từ nấm men như tế bào nấm men hoặc cao nấm men.
Men bia sống
Men bia sống hoạt động như các vi khuẩn có lợi trong ruột cá và được chứng minh có tác dụng với hệ miễn dịch và quá trình trao đổi chất. Ví dụ, cho ăn P.rhodozyma và men Saccharomyces cerevisiae với tỷ lệ 0,1% thức ăn có thể giúp hậu ấu trùng tôm chân trắng tăng tỷ lệ sống và kháng bệnh rõ rệt. Tôm có tỉ lệ sống cao hơn khi ăn men bia P.rhodozyma có thể là do khả năng chống oxi hóa của carotin có trong men này. Khả năng chống lại stress oxi hóa tương tự cũng được tìm thấy ở ấu trùng cá tráp. Nếu bổ sung 4,3% nấm men Debaryomyces hansenii, một loại men tách ra từ ruột cá hồi vân, có thể duy trì hoạt động của các chất chống ôxi hóa như Superoxide Dismutase (SOD) và chất glutathione peroxidase. Đối với cá chép, men Saccharomyces cerevisiae trộn với thức ăn theo tỉ lệ 1g/kg đã cải thiện được tốc độ tăng trưởng và hệ số thức ăn. Một cuộc nghiên cứu khác trên cá rô phi giống cho thấy men bia Saccharomyces cerevisiae được sử dụng với liều lượng tương tự có tác dụng kích thích tăng trưởng và giảm căng thẳng cho cá.
Thành tế bào nấm men
Thành tế bào nấm men (YCW) có cấu trúc dày và phức tạp trong tế bào. Nó bao gồm thành tế bào và màng huyết thanh. Đây là bột trung tính, có mùi men bia và dễ hòa tan. YCW được Công ty Phụ gia Thức ăn Lesaffre (LFA) sản xuất từ sản phẩm đơn bào và không phải là phụ phẩm của ngành công nghiệp lên men, qua tinh chế, beta-glucan có thể tăng lên trong YCW. Trong những năm2006-2008, một số thử nghiệm đã được thực hiện LFA để đánh giá vai trò khác nhau của YCW và cao nấm men trong thủy sản.
Thử nghiệm trên cá rô phi
Thử nghiệm ở bể nuôi được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Thú y Thủy sản, Khoa Thú y, Đại học Chulalongkorn, Thái Lan, thực hiện.
Cá rô phi giống có cân nặng 1g, thử nghiệm nuôi 3 tháng trong bể 50lít với 30 con/bể. Cá được ăn thành tế bào nấm men (YCW) ở 5 chế độ khác nhau bằng 0, 100, 500, 1000 và 2000ppm.
Nhằm đánh giá khả năng chịu sức ép của cá, hàm lượng ammoniắc được điều chỉnh ở mức 0,5mg/l. Hàm lượng thành tế bào nấm men trên 100ppm cho thấy có tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng (bảng 1), tạo ra khả năng chịu sức ép tốt hơn.
Trong suốt thời gian thử nghiệm, mỗi tháng 1 lần bắt từ mỗi mẫu thí nghiệm 5 con cá, tiêm vào bụng Streptococcus nhóm B lượng gây chết trung bình trong khoảng 105 cfu/cá. Tỉ lệ chết của cá được ghi lại trong 7 ngày. Bảng 2 cho thấy cá trị liệu bằng YCW có tỉ lệ sống cao hơn.
Để khẳng định kết quả này, tiếp tục thực hiện thí nghiệm tương tự đối với cá nuôi lồng thương phẩm trong 3 tháng tại Nakon Nayok và chỉ áp dụng nồng độ 500 và 1000ppm. 3 lồng cá còn lại được sử dụng để đối chứng. Mặc dù, cuối cuộc thử nghiệm, chế độ ăn YCW cho cá lớn hơn nhưng tỉ lệ tăng trưởng và hệ số thức ăn không có sự khác biệt lớn.
Một thử nghiệm men S.agalactiae khác với cá nuôi ở mật độ 20 cá/lồng cho thấy kết quả tương tự như trong bể với tỉ lệ sống tăng 50%.
Thử nghiệm trên tôm
Đại học Songkhla đã phối hợp với Viện nghiên cứu thú y thủy sản biển thử nghiệm YCW trên tôm. Tôm chân trắng nặng 1g được ăn thức ăn có trộn YCW với liều lượng 100, 500, 2000ppm trong 42 ngày (15 con/bể 50 lít, 4 mẫu). Không phát hiện thấy sự khác biệt nào về tăng trưởng, song YCW có hiệu quả hiệu quả tích cực trong việc ngăn chặn mầm bệnh. Điều này đã được khẳng định khi thử nghiệm liên tục trong bể 600 lít với tôm 2g trong 4 tuần (50 con/ao, 3 tỷ lệ phối trộn) (Bảng 3).
YCW có tác động tích cực lên hệ miễn dịch của thủy sản, đôi khi sử dụng trong NTTS để tránh suy giảm miễn dịch, có thể do beta-glucan kích thích hệ thống miễn dịch. Tuy nhiên, việc cần thiết hơn là xác định đúng liều lượng, phương pháp áp dụng YCW trong thức ăn thủy sản và giai đoạn nuôi phù hợp để đảm báo kết quả tốt nhất.
Cao nấm men
Cao nấm men là một nội bào trong tế bào men bia. Chúng gồm tế bào chất, nhân tế bào và các cơ quan tế bào và thường rất giàu axit amin, kết thành chuỗi, vitamin (vitamin B, Glutathione), cacbon hydrat và muối. Cao nấm men được tách ra từ các đoạn men bia sau khi được tự phân. Chúng được sử dụng chủ yếu để tạo ra hương vị ngon miệng tự nhiên trong ngành thực phẩm và như các chất dinh dưỡng cho việc nuôi vi khuẩn trong ngành dược phẩm. Cao nấm men có nhiều dạng khác nhau như dạng lỏng hoặc dạng bột. Cao nấm men thường có 50-75% protein, 4-13% carbon hiydrat và không có lipit.
Cao nấm men có nguồn gốc của các chuỗi tiêu hóa. Các axit amin và nucleotit tự do có thể cũng hoạt động như chất hấp dẫn trong cá. Việc bổ sung cao nấm men trong thức ăn thủy sản có khả năng tăng cường hiệu quả dinh dưỡng. Hơn nữa việc tăng thêm nucleotit trong thức ăn cho phép bổ sung chuỗi tổng hợp mới một cách hiệu quả đặc biệt khi động vật bị sức ép. Cao nấm men cũng cho thấy có thể thay thế một phần hoặc hoàn toàn bột cá trong chế độ ăn.
Thử nghiệm đối với 3 tỷ lệ phối trộn cao nấm men tiêu chuẩn của LFA ở mức 100, 500, 2000ppm cho thấy, tỷ lệ 2000ppm (2kg/ tấn thức ăn) mang đến hiệu quả đáng kể cho tốc độ tăng trưởng đối với tôm nuôi trong bể, nhưng không thấy bất cứ hiệu quả nào trên chỉ số miễn dịch (bảng 4). Cao nấm men tiêu chuẩn có khả năng cải thiện tốc độ tăng trưởng nhờ cung cấp protein dễ tiêu hóa hoặc thu hút tôm ăn.
Men bia với các tác dụng của nó có thể giải quyết tốt một số vấn đề mà ngành NTTS đang phải đối mặt, như thay thế bột cá, các vấn đề dịch bệnh vi khuẩn hoặc bệnh động thực vật ký sinh. Tuy nhiên, ngành NTTS và các nhà sản xuất men bia cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa để mang lại hiệu quả tốt nhất của các vi sinh vật “thú vị” này.
Hằng Vân dịch
Aquaculture Asia Pacific T7-8/2011
Aquaculture Asia Pacific T7-8/2011
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét